Chà, kế hoạch tham gia reading challenge năm nay của mình vẫn là 52 cuốn như các năm trước và có vẻ như tiến độ thực hiện khá ổn. Mình mua thử gói 1 tháng của Waka – app đọc sách phát triển bởi Waka corporation, tiếp tục đăng kí Scribd (dù dạo này mình chưa sử dụng tối ưu) và tìm ebook trên website dtv-ebook. Khung giờ đọc sách sẽ là từ 10h đến 12h tối mỗi ngày sau phần Reflection về bản thân trước khi đi ngủ.

Mình ưu tiên tìm những cuốn sách đạt các giải thưởng văn học lớn để đọc trước (bạn hầu như sẽ không bao giờ phải thất vọng đâu). Song song với đó, mình cũng đọc ngẫu nhiên những cuốn sách được gợi ý của app hay website (đổi gió một chút cũng làm việc đọc bớt nhàm chán và thêm phần hấp dẫn)

Trong khi đọc có rất nhiều đoạn mình muốn đọc lại nhiều lần, nhất là muốn mọi người nếu có thời gian có thể cùng đọc và chia sẻ những cảm xúc chúng mang lại.

Tất nhiên, đó cũng chỉ là ý kiến của cá nhân, cho nên mình cũng cố gắng chia sẻ  một vài lý do “mơ hồ” của bản thân tại sao mình lại chọn đoạn này để ghi chú lại trong blog mà không phải là đoạn khác để sau này đọc lại mình tự hiểu mình thêm ở giai đoạn này (biết đâu vào một ngày đẹp trời sau nữa thế giới quan lại dịch chuyển về hướng khác. Ai mà biết được!) và cũng để mọi người thử ngẫm xem họ nghĩ gì khi đọc và tại sao lại có những suy nghĩ và cảm xúc như thế.

Khi nghĩ về tập hợp những trải nghiệm xung quanh, mình nghĩ tới những khối năng lượng. Và những đoạn sách hay cũng vậy: có khi giống một đốm sáng màu vàng dịu nhẹ, thơm thơm và tỏa ra hơi ấm dễ chịu, có khi thì mát mẻ hiu hiu như cơn gió khiến người ta khoan khoái, có khi chạm đến phần sâu thẳm bên trong ta khiến ta rưng rưng cảm động, có nhiều lúc lại làm ta nhức nhối, bứt rứt chỉ muốn nhảy cóc, bỏ qua để khỏi phải soi xét chính mình vì cảm giác tội lỗi, có lúc đọc xong thấy như nốc một cốc rượu khiến người lâng lâng dám làm mọi thứ bấy lâu này mình sợ sệt, có khi lại biến thành một dòng suối ngoằn nghèo chạy thẳng vào trung tâm nút thắt của vấn đề ôm ấp bấy lâu nay mà đem nguồn nước trong trẻo xoa dịu cơn khát mong được thấu hiểu đã vốn khô cằn. Hiếm lắm thì là cảm giác chói lòa, sáng bừng của một sự thật nào đó, rất giản dị mà mình bị che mắt tới tận giờ phút này.

Và trên hết cả những nguồn năng lượng này rất cần cho những khi “mất tinh thần”, khi trống trải và mệt nhoài vì mọi thứ ngoài kia.

Quan sát bản thân, mình thấy thường bị cuốn hút bởi 1) những khoảnh khắc đời thường mà tác giả mô tả, hay 2) một luồng tư tưởng nào đó mới mẻ và dường như là điều tác giả  ngầm muốn “nhắn nhủ” trực tiếp hơn hết với người đọc ẩn sâu trong lớp lớp các trang sách của họ.

Uhm, giờ thì cùng bắt đầu với cuốn số 1 nha

 

ÁNH SÁNG VÔ HÌNH
–★–
Tựa gốc: All the light we cannot see
Tác giả: Anthony Doerr
Dịch giả: Vũ Thanh Tuyền
Đoạt giải: Pulitzer 2015
Phát hành: Quảng Văn
Nhà xuất bản Văn Học (tái bản 4/2018)

Ừm ấn tượng đầu tiên và mạnh mẽ mà cuốn sách này mang lại cho mình đó là sự khủng hoảng tinh thần của chiến tranh. Trong mắt cô gái mù 12 tuổi Marie-Laure, cuộc sống êm đềm và hạnh phúc bên người cha, những chuyến rong chơi đầy thú vị trong Bảo tàng nơi cha làm việc, việc chờ đợi những món quà sinh nhật – những cuốn sách chữ Braille cô cực kì yêu thích, đã bị ngắt quãng một cách đột ngột, không cảnh báo, không được chuẩn bị và đầy tàn nhẫn bởi chiến tranh.

Tác giả qua các nhân vật đã thể hiện cho người đọc thấy cái bầu không khí khẩn trương như châm lửa bằng xăng, sự khốc liệt của chiến tranh lan rộng khắp từ thành phố tới vùng quê một cách dồn dập, khiến ngay cả những người trong cuộc cũng khó có thể tin nổi.

Nếu bạn muốn thử cảm nhận sự ập tới của một thực tại không mấy dễ chịu mà cỗ máy chiến tranh gây ra, cuốn sách sẽ giúp bạn phần nào.

Điều này vô hình chung làm mình liên tưởng tới sự bùng nổ của dịch Covid – có lẽ không ai ngờ rằng dịch bệnh này lại xâm chiếm mạnh mẽ các quốc gia, và reo rắc những mất mát về con người cũng như kinh tế lớn đến như vậy. Thậm chí ngay khi nó đang thực sự xảy ra vẫn có rất nhiều người chưa tin rằng những gì họ đang phải gánh chịu là một thực tế mới. Phong tỏa, hạn chế đi lại, thiếu thốn lương thực, thiếu thốn máy thở oxy, thất nghiệp và còn rất nhiều những điều kinh khủng khác nữa.

Điểm sáng tiếp theo là tâm hồn tươi đẹp của những đứa trẻ, nổi bật là hai nhân vật chính, Marie-Laure và Werner.

Ở nhà, vào buổi tối, cha cô xếp gọn giày hai cha con vào cùng
một góc khuất, treo áo khoác lên cùng một cái móc. Marie-Laure đi
qua sáu gờ đá lát có khoảng cách bằng nhau ở trong bếp để đến
bàn ăn, cô lần theo một sợi dây bện cha đã giăng để đi từ bàn đến
nhà vệ sinh. Cha múc bữa tối ra một cái đĩa tròn và mô tả vị trí của
các loại thức ăn khác nhau theo hướng giờ đồng hồ. “Con yêu,
khoai tây ở hướng sáu giờ. Nấm ở hướng ba giờ.” Rồi cha hút
thuốc và tiếp tục với các mô hình thu nhỏ trên cái bàn làm việc trong
góc bếp. Cha đang dựng mô hình theo tỉ lệ của toàn bộ khu vực
xung quanh nhà, những tòa nhà có khung cửa sổ cao, rãnh thoát
nước mưa, tiệm giặt là, tiệm bánh mì và quảng trường nhỏ cuối
đường có bốn ghế dài và mười cái cây. Vào những đêm ấm áp,
Marie-Laure mở cửa sổ phòng ngủ lắng nghe tiếng đêm lặng dần
qua ban công, đầu hồi, ống khói, chậm rãi và yên bình, cho đến khi
khung cảnh thật xung quanh và mô hình thu nhỏ hòa thành một
trong tâm trí cô.

“Vào rừng!” hay “Tahiti!” hoặc “Mozambique!.”
“Ồ, lần này là một chuyến đi dài”, ông Etienne sẽ nói bằng giọng
hoàn toàn khác, êm dịu, mượt mà, kéo dài của một người chỉ huy.
“Đó là Đại Tây Dương ở tít phía dưới, nó lấp lánh dưới ánh trăng,
cháu có ngửi thấy không? Cháu có cảm thấy trên đây lạnh thế nào
không? Có cảm thấy gió lùa qua tóc không?”
“Chúng ta đang ở đâu vậy ông?”
“Chúng ta đang ở Borneo, cháu có thể nói gì nào? Giờ chúng ta
đang lướt qua các ngọn cây, những chiếc lá to bè dập dờn phía
dưới, đằng kia là những bụi cà phê, cháu có ngửi thấy không?” và
Marie-Laure sẽ thật sự ngửi được thứ gì đó, có lẽ vì ông chú đang
đưa bã cà phê qua mũi cô, hoặc bởi họ thật sự đang bay qua
những cây cà phê ở Borneo, cô không muốn biết thật ra là thế nào.
Họ tham quan Scotland, thành phố New York, Santiago. Nhiều
lần họ mặc áo khoác ấm và tham quan mặt trăng. “Cháu có cảm
thấy chúng ta nhẹ bẫng như thế nào không, Marie? Hơi nhích chút
xíu là cháu có thể di chuyển!.” Ông đặt cô ngồi trên chiếc ghế có
bánh xe của ông và thở hổn hển khi ông đẩy ghế xoay tròn đến khi
cô không thể cười nổi nữa vì tức ngực.
“Đây, nếm chút mát lạnh của mặt trăng tinh khiết”, ông nói và
trong miệng cô là món gì đó có vị giống như pho mát. Lúc nào họ
cũng kết thúc bằng cách lại ngồi cạnh nhau và đấm vào tấm đệm,
căn phòng từ từ hiện ra xung quanh họ. “À”, ông nói, lặng lẽ hơn,
giọng giảm dần, thoáng sợ hãi trở lại trong giọng nói của ông,
“Chúng ta về đây rồi. Về nhà.

Hôm qua là Chủ nhật và bọn anh vào rừng thực hành huấn luyện
quân sự. Lũ chó săn chạy trước vì khu rừng đầy chồn Mactet và nai.
Những học viên khác ngồi trong công sự, bàn tán về những chiến
thắng vẻ vang, chúng ta sẽ sớm vượt qua eo biển Manche như thế
nào, phá hủy và mấy con chó của tiến sĩ
Hauptmann quay trở lại, mỗi con ngoạm một con thỏ, nhưng
Frederick quay lại với khoảng một ngàn quả mọng trong áo sơ mi,
tay áo cậu ấy rách toạc vì vướng bụi mâm xôi, túi đựng ống nhòm
của cậu ấy mở toang, anh nói, cậu sắp gặp rắc rối to rồi và cậu ấy
nhìn xuống quần áo mình như thể chưa từng thấy chúng trước đây!
Frederick nhận ra tất cả các loài chim chỉ qua tiếng hót của chúng.
Trên bờ hồ, bọn anh nghe tiếng chim chiền chiện, chim te te, chim
choi choi, một con diều mướp và hàng chục loài chim khác mà anh
đã quên tên. Anh nghĩ em sẽ thích Frederick. Cậu ấy nhận ra những
thứ mà người khác không nhìn thấy. Anh hi vọng em đã bớt ho và
cô Elena cũng vậy. Sieg heil.

[…]

Cậu thử chia sẻ những lý thuyết khác nhau ấy với Frederick,
nhưng cậu rút ra được rằng Frederick, loay hoay như thể đang đắm
chìm trong một giấc mộng, chiếc quần rộng thùng thình trông như
sắp tuột xuống. Đôi mắt cậu ta vừa mơ hồ vừa mãnh liệt; cậu ta hầu
như không nhận ra mình đã trượt mất mục tiêu trong bài tập bắn.
Hầu như đêm nào Frederick cũng tự lẩm nhẩm trước khi ngủ: mấy
đoạn thơ, thói quen của lũ ngỗng, tiếng những con dơi sà xuống mà
cậu ta nghe được ngoài cửa sổ.
Chim, luôn là chim.
“… lúc này, Werner, chim nhạn Bắc Cực, bay từ cực Nam đến
cực Bắc, là những nhà hàng hải thực thụ trên trái đất, có lẽ là loài
động vật di trú nhiều nhất sống trên thế giới này, bảy mươi nghìn kilô-mét một năm…”
Một luồng ánh sáng hiu hắt chiếu qua chuồng ngựa, vườn nho và
bãi tập bắn, những đàn chim biết hót tạo thành vệt sọc khắp quả
đồi, những đàn chim sẻ lớn tình cờ đang trên đường di trú về
phương Nam, những ngọn tháp của học viện nằm ngay trên tuyến
đường di trú. Thỉnh thoảng, một đàn chim đậu trên một cây đoan
lớn ngoài bãi tập và làm náo động bên dưới những tán lá.

Con để ông gội đầu cho mình. Marie-Laure cứ lướt ngón tay qua
lại chỗ bọt xà phòng, như thể cố gắng đo trọng lượng của chúng.
Trong ông luôn có một nỗi hoảng sợ, chôn vùi tận sâu kín, khi có
liên quan đến con gái: nỗi sợ rằng ông không phải là một người cha
tốt, rằng ông đang làm hỏng mọi thứ. Rằng ông chẳng bao giờ hiểu
hết các quy tắc. Tất cả những bà mẹ Paris đẩy xe goòng qua vườn
bách thảo Paris hay cầm áo khoác len giơ lên trong các cửa hàng
bách hóa – ông thấy dường như những người phụ nữ đó gật đầu
với nhau khi hai cha con đi ngang qua, như thể mỗi người nắm giữ
bí mật nào đó mà ông không biết. Làm sao mà bạn biết chắc rằng
mình đang làm đúng mọi thứ chứ?
Dù vậy, cũng có một niềm tự hào – tự hào rằng ông đã làm được
một mình. Rằng con gái ông rất ham hiểu biết, rất kiên cường. Một
việc bình dị như được làm cha ai đó đem lại cảm xúc quá mãnh liệt,
như thể ông chỉ là một đường dẫn nhỏ cho một thứ khác, lớn hơn
nhiều. Đó chính là cảm giác của ông ngay lúc này, khi ông đang quỳ
bên cạnh con, gội đầu cho con: như thể tình yêu ông dành cho con
còn vượt xa hơn cả cơ thể hữu hạn này. Những bức tường có thể
sụp đổ, thậm chí là cả thành phố, nhưng cảm xúc rạng ngời ấy sẽ
không phai nhạt.

Nhắm mắt để đoán những thứ không thể nhìn thấy bằng mắt
thường. Bên dưới thế giới gồm có bầu trời, những khuôn mặt và
những tòa nhà, tồn tại một thế giới ban sơ, cổ xưa hơn, trong thế
giới ấy, mặt phẳng tan rã, những dải âm thanh tụ lại xuyên qua
không khí. Marie-Laure có thể ngồi trong căn gác mái cao hơn mặt
đường, lắng nghe tiếng hoa huệ tây xào xạc trong đầm lầy cách đó
hai dặm. Cô nghe thấy tiếng các lính Mỹ hối hả chạy qua những
cánh đồng, hướng những khẩu đại bác khổng lồ về phía Saint-Malo
bốc khói; cô nghe thấy tiếng những gia đình sụt sịt mũi quanh
những ngọn đèn bão dưới hầm, tiếng lũ quạ nhảy từ đống này qua
đống kia, ruồi bu trên những xác chết trong chiến hào; cô nghe thấy
tiếng những cây me rung rinh, tiếng chim giẻ cùi kêu inh ỏi, cồn cỏ
bốc cháy; cô cảm nhận nắm đấm bằng đá khổng lồ, đấm sâu vào vỏ
trái đất, đúng vị trí của Saint-Malo, đại dương ngoạm vào khắp bốn
hướng Saint-Malo, những hòn đảo ngoài khơi vẫn đứng vững trước
những dòng xoáy; cô nghe thấy tiếng những con bò uống nước
trong những máng ăn bằng đá, những chú cá heo nhảy lên khỏi mặt
nước xanh thẳm ngoài eo biển Manche; cô nghe thấy tiếng xương
của những con cá voi chết kêu lạo xạo năm hải lý bên dưới, tủy của
chúng đủ để làm thức ăn trong một thế kỷ cho các quần thể sinh vật
cả đời chưa từng nhìn thấy ánh sáng mặt trời. Cô nghe thấy tiếng
những con ốc trong hang động lê mình trên những vách đá.